Các trường đại học đào tạo ngành y và dược tại Việt Nam — bản đồ lịch sử, khoa và sinh viên năm 2026
Từ École de Médecine de l'Indochine thành lập tại Hà Nội năm 1902 đến khoảng 35+ trường đại học và học viện được kiểm định đang hoạt động, hệ thống đào tạo y - dược Việt Nam ngày nay trải dài từ các trường trọng điểm lịch sử, các đại học công lập vùng, Học viện Quân y, cho đến nhóm trường tư thục đang mở rộng dẫn đầu là VinUniversity. Tổng hợp đọc cùng Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 (Luật 15/2023/QH15), Nghị định 96/2023/NĐ-CP, và Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh áp dụng theo lộ trình từ ngày 1/1/2027.
Ngày 8 tháng 1 năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer ký sắc lệnh thành lập École de Médecine de l'Indochine tại Hà Nội và bổ nhiệm Alexandre Yersin — khi ấy đã nổi tiếng với công trình về bệnh dịch hạch — làm giám đốc đầu tiên. Mười ba sinh viên Pháp ngữ vào lớp khai giảng. Đó là cơ sở giáo dục đại học thứ hai từng được mở ở Việt Nam sau Văn Miếu, và là trường đại học hiện đại đầu tiên trên toàn lãnh thổ. Một trăm hai mươi bốn năm sau, ngôi trường đơn lẻ ấy đã nhân thành một hệ thống quốc gia gồm khoảng ba mươi lăm trường đại học và học viện được kiểm định, đào tạo bác sĩ, bác sĩ răng-hàm-mặt, bác sĩ y học cổ truyền, dược sĩ, chuyên gia y tế công cộng, điều dưỡng viên và kỹ thuật viên y học. Đây là bản đồ năm 2026 của hệ thống ấy: lịch sử, khung pháp lý đương thời và các cơ sở đang thực sự vận hành giảng đường.
Trục lịch sử, 1902–2026
Trường năm 1902 được Albert Sarraut nâng cấp năm 1913 thành Université de médecine et de pharmacie de l'Indochine; bộ phận dược chính thức được bổ sung năm 1914. Thập niên 1930 đổi tên thành École Supérieure de Médecine et de Pharmacie. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945–54) trường sơ tán lên chiến khu Việt Bắc suốt chín năm. Khóa hậu cách mạng đầu tiên khai giảng ngày 15 tháng 11 năm 1954 chỉ với ba mươi bảy cán bộ — nhưng trước đó trường đã đào tạo 442 dược sĩ Việt Nam, gấp hơn mười hai lần sản lượng thời thuộc địa. Sau Geneva, một Khoa Y miền Nam song song phát triển trong Đại học Sài Gòn (thành lập 1947 dưới quyền GS C. Massias).
Ngày 29 tháng 9 năm 1961 Bộ Y tế ban hành Quyết định 828/BYT-QĐ tách trường mẹ Hà Nội thành hai: Trường Đại học Y Hà Nội (HMU) và Trường Đại học Dược Hà Nội (HUP), với dược sĩ Vũ Công Thuyết làm hiệu trưởng đầu tiên của HUP; HUP bắt đầu hoạt động độc lập từ đầu năm 1964. Cuối thập niên 1960 và thập niên 1970 mang đến đợt mở rộng trường vùng khi nhà nước miền Bắc thời chiến đẩy mạnh đào tạo cán bộ y tế ra các tỉnh: ngày 23 tháng 7 năm 1968, các Quyết định 114/CP và 116/CP của Hội đồng Chính phủ thành lập phân hiệu Thái Bình và phân hiệu Thái Nguyên của HMU. Trường y Huế đã có sớm hơn, ngày 28 tháng 3 năm 1957. Khoa Y Trường Đại học Tây Nguyên khai giảng ngày 11 tháng 11 năm 1977. Cơ sở II của HMU tại Hải Phòng mở tháng 9 năm 1979 và được nâng cấp thành trường độc lập (Trường Đại học Y Hải Phòng, HPMU) theo Quyết định 06/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng. Khoa y bên trong Đại học Cần Thơ cũng khởi nguồn từ tháng 7 năm 1979; trở thành Trường Đại học Y Dược Cần Thơ độc lập tháng 12 năm 2002.
Ở miền Nam, tái cơ cấu sau thống nhất đã tạo ra — ngày 27 tháng 10 năm 1976 — Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (UMP-HCMC) trên nền Khoa Y Đại học Sài Gòn cũ. Trường trọng điểm công lập thứ hai ở miền Nam, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, lớn lên từ Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ Y tế năm 1989 của Thành phố Hồ Chí Minh; được nâng cấp thành trường đại học ngày 1 tháng 7 năm 2008 và đến nay vẫn — một cách bất thường — trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Bộ Y tế.
Thập niên 2000 và 2010 đưa vào hệ thống các trường y trực thuộc đại học quốc gia, các trường kỹ thuật và y học cổ truyền chuyên biệt, và đợt sóng tư thục bền vững đầu tiên. Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập Khoa Y Dược ngày 20 tháng 5 năm 2010 và nâng cấp thành Trường Đại học Y Dược, ĐHQGHN ngày 27 tháng 10 năm 2020. Đại học Quốc gia TP.HCM thành lập Khoa Y ngày 23 tháng 6 năm 2009 và ngày 3 tháng 6 năm 2024 nâng cấp thành Trường Đại học Khoa học Sức khỏe — ĐHQG-HCM theo Quyết định 472/QĐ-TTg. Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 2 năm 2005 trên cơ sở Trường Bồi dưỡng Cán bộ Y học cổ truyền Trung ương năm 1957. Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, trường điều dưỡng chuyên biệt đầu tiên cả nước, được nâng cấp ngày 26 tháng 2 năm 2004 theo Quyết định 24/2004/QĐ-TTg. Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương theo sau ngày 12 tháng 7 năm 2007, và Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng ngày 15 tháng 4 năm 2013 theo Quyết định 595/QĐ-TTg.
Thập niên 2020 mở cửa cho các nhân tố tư thục cao cấp. VinUniversity khai trương College of Health Sciences tháng 10 năm 2020, với Penn Medicine và Weill Cornell làm đối tác chiến lược, cùng chương trình nội trú được ACGME-International công nhận — chỉ hai cơ sở ở Đông Nam Á đạt chứng nhận ACGME-I. Trường Đại học Phenikaa, được tái thiết từ Đại học Thành Tây năm 2007 sau khi Tập đoàn Phenikaa mua lại trong giai đoạn 2017–2018, đã xây dựng cụm khoa học sức khỏe đầy đủ bao gồm y khoa, răng-hàm-mặt, dược, y học cổ truyền, điều dưỡng, kỹ thuật y sinh và thêm mười chương trình nữa. Đồng thời cơ quan quản lý siết chặt: Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 (Luật 15/2023/QH15) và Nghị định 96/2023/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2024, rút thời gian thực hành sau tốt nghiệp từ mười tám xuống mười hai tháng và đưa vào Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh duy nhất, áp dụng theo lộ trình từ năm 2027 (xem dưới).
Khung pháp lý
Đào tạo y - dược tại Việt Nam đặt dưới thẩm quyền song song. Bộ Y tế sở hữu nội dung lâm sàng, sắp xếp bệnh viện, các bậc nội trú và chứng chỉ hành nghề; Bộ Giáo dục và Đào tạo sở hữu kiểm định chương trình, chỉ tiêu tuyển sinh và danh hiệu văn bằng. Thời lượng điển hình là sáu năm cho Y khoa (bác sĩ đa khoa), Răng-Hàm-Mặt (RHM) và Y học cổ truyền (YHCT); năm năm cho Dược (dược sĩ đại học) và một số ngành Y học dự phòng và Y tế công cộng; bốn năm cho Điều dưỡng, Hộ sinh và các phân ngành Kỹ thuật Y học (xét nghiệm, hình ảnh, phục hồi chức năng).
Sau tốt nghiệp, bác sĩ đi theo một trong hai con đường. Con đường mặc định là mười hai tháng thực hành có giám sát tại bệnh viện (rút gọn từ mười tám tháng theo Nghị định 96/2023/NĐ-CP) dẫn đến Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Con đường cạnh tranh là Bác sĩ Nội trú — truyền thống ba năm tại HMU, UMP-HCMC, Trường Đại học Y Dược Huế hoặc Phạm Ngọc Thạch — chỉ mở cho sinh viên tốt nghiệp điểm cao và được coi là cửa thực tế vào con đường y học hàn lâm. Thang chuyên gia sau đại học chạy qua Chuyên khoa I và Chuyên khoa II, song song với hệ Thạc sĩ và Tiến sĩ của Bộ GD&ĐT.
Cải cách quan trọng nhất của thập niên 2020 là Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quốc gia, do Hội đồng Y khoa Quốc gia tổ chức (thành lập năm 2020, được WHO ghi nhận tháng 5 năm 2021). Lộ trình, được Hội đồng xác nhận và VietnamNet cùng Vietnam News tường thuật năm 2026, là: bác sĩ từ ngày 1 tháng 1 năm 2027 (đợt thi đầu tiên dự kiến tháng 12 năm 2027 tại sáu trung tâm thi trên máy tính, phủ bác sĩ đa khoa, bác sĩ y học dự phòng, bác sĩ y học cổ truyền và bác sĩ răng-hàm-mặt); y sĩ, điều dưỡng và hộ sinh từ ngày 1 tháng 1 năm 2028; kỹ thuật viên xét nghiệm, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu ngoại viện và tâm lý lâm sàng từ ngày 1 tháng 1 năm 2029. Người được cấp phép trước các mốc chuyển tiếp này được công nhận tự động. Song song, kiểm định chương trình ngày càng được tham chiếu chéo với AUN-QA — Trường Đại học Y Dược Huế là cơ sở tiên phong — và với FIBAA đối với một số trường tư thục.
Thống kê tổng hợp
Theo báo cáo cuối năm 2024 của Bộ Y tế (do Người Lao Động dẫn), Việt Nam đạt 14 bác sĩ trên 10.000 dân, tăng từ 12,5 năm 2023 và 9,8 năm 2020, so với mục tiêu 15/10.000 vào năm 2025. Tổng số bác sĩ đang hành nghề khoảng 125.000 trên một dân số hơn 100 triệu. Mục tiêu mật độ giường năm 2025 là 33 giường trên 10.000 dân. Cộng dồn chỉ tiêu tuyển sinh năm 2024 tại các trường lớn nhất (UMP-HCMC 2.516; HMU 1.720, nâng lên 1.910 năm 2025 kể cả phân hiệu Thanh Hóa mới; HUP 940; Y Dược Huế 1.690; TUMP Thái Nguyên 1.380; DUMTP Đà Nẵng 1.224 vào năm 2025; Y khoa Vinh 1.010 vào năm 2025; Y Dược ĐHQGHN 647; THUV 266) cho thấy tổng đầu vào quốc gia cho Y khoa + Dược + RHM + YHCT + Điều dưỡng + KTYH cộng lại vào khoảng 25.000–30.000 mỗi năm, dù Bộ GD&ĐT không công bố một con số tiêu đề hợp nhất duy nhất. Mạng lưới bệnh viện thực hành của các trường trọng điểm rất dày: HMU đưa sinh viên qua BV Bạch Mai, BV Việt-Đức, BV K và BV ĐH Y Hà Nội của chính mình; UMP-HCMC làm việc qua Chợ Rẫy, BV ĐH Y Dược TP.HCM, BV Nhân dân Gia Định, BV Từ Dũ và BV Nhi Đồng 1 và 2; Y Dược Huế qua BV Trung ương Huế; Học viện Quân y qua BV Quân y 103 và BV Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác; Phạm Ngọc Thạch qua BV Nhân dân 115 và BV Nguyễn Tri Phương.
Các trường trọng điểm bậc 1
Trường Đại học Y Hà Nội (HMU, Hà Nội). Số 1 Tôn Thất Tùng, Đống Đa. Thành lập ngày 8 tháng 1 năm 1902. Công lập, dân sự, trực thuộc Bộ Y tế, trường trọng điểm quốc gia. Các khoa gồm Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Y học cổ truyền, Y học dự phòng, Y tế công cộng, Điều dưỡng-Hộ sinh, Kỹ thuật Y học, Khúc xạ nhãn khoa, Tâm lý học và một chương trình Dược quy mô nhỏ. Chỉ tiêu năm 2024 là 1.720; năm 2025 là 1.910 trên mười chín ngành kể cả phân hiệu Thanh Hóa mới. Trường y uy tín nhất Việt Nam xét theo tính cạnh tranh đầu vào, đội ngũ giảng viên và mạng lưới lâm sàng.
Trường Đại học Y Dược TP.HCM (UMP-HCMC). 217 Hồng Bàng, Quận 5. Thành lập ngày 27 tháng 10 năm 1976 từ Khoa Y Đại học Sài Gòn năm 1947. Công lập, dân sự, Bộ Y tế. Tám khoa — Y khoa, Dược, Răng-Hàm-Mặt, Khoa học cơ bản, Điều dưỡng và Kỹ thuật Y học, Y học cổ truyền, Y tế công cộng — cùng bệnh viện thực hành BV ĐH Y Dược TP.HCM. Chỉ tiêu 2024 là 2.516, đầu vào đơn lẻ lớn nhất cả nước. Trường đào tạo chủ lực bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ miền Nam.
Trường Đại học Dược Hà Nội (HUP). 13–15 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm. Thành lập ngày 29 tháng 9 năm 1961 bằng cách tách khỏi HMU; gốc dược chạy về tận năm 1914. Công lập, dân sự, Bộ Y tế. Trường đại học dược đơn ngành với các bộ môn Công nghiệp Dược, Dược liệu, Hóa Dược, Quản lý và Kinh tế Dược, và Dược lâm sàng. Chỉ tiêu 2024 là 940. Đang chuyển hướng sang mô hình đại học nghiên cứu. Dược sĩ HUP chiếm ưu thế tại Cục Quản lý Dược và các nhà sản xuất dược lớn trong nước.
Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế (Y Dược Huế). Thành lập ngày 28 tháng 3 năm 1957 với tư cách trường y của Đại học Huế; đổi tên Y Dược năm 2007; Khoa Dược được lập năm 1999 — một trong ba chương trình dược đầu tiên ở Việt Nam và đầu tiên ở miền Trung. Công lập, dân sự, thành viên Đại học Huế. Chỉ tiêu 2024 là 1.690. Tiên phong AUN-QA cho nhiều chương trình.
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (CTUMP). 179 Nguyễn Văn Cừ, Ninh Kiều. Khoa y bên trong Đại học Cần Thơ từ tháng 7 năm 1979; trường UMP độc lập từ tháng 12 năm 2002; cơ sở 30,95 hecta khai trương tháng 12 năm 2010. Sáu khoa cùng bệnh viện trường; khoảng 3.000 sinh viên và 657 nhân viên trong đó có 446 cán bộ giảng dạy. Động lực nguồn nhân lực y tế cho đồng bằng sông Cửu Long.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng (HPMU). Cơ sở II của HMU từ tháng 9 năm 1979; trường độc lập theo Quyết định 06/1999/QĐ-TTg; đổi tên Y Dược ngày 11 tháng 11 năm 2013 (Quyết định 2153/QĐ-TTg). Khoảng 10.000 cựu sinh viên trong hơn 40 năm. Trung tâm của vùng Đông Bắc.
Trường Đại học Y Dược Thái Bình (TBUMP). Thành lập ngày 23 tháng 7 năm 1968 (Quyết định 114/CP) với tư cách phân hiệu HMU thời chiến; thành trường đầy đủ ngày 24 tháng 1 năm 1979 (Quyết định 34/CP); đổi tên Y Dược ngày 11 tháng 11 năm 2013 (Quyết định 2154/QĐ-TTg). Sáu khoa bao gồm Y học dự phòng, Y học cổ truyền, Y tế công cộng, Điều dưỡng và Dược, cùng bệnh viện trường. Truyền thống mạnh về YHDP / y học cộng đồng gắn với đồng bằng sông Hồng.
Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên (TUMP). Gốc Trường Trung học Y tế Việt Bắc thập niên 1950; phân hiệu vùng núi của HMU từ năm 1968 (Quyết định 116/CP); độc lập năm 1975; sáp nhập vào Đại học Thái Nguyên đa cơ sở năm 1994; Khoa Dược được lập tháng 10 năm 2008. Khoảng 8.000 sinh viên và chỉ tiêu 1.500–1.800 mỗi năm (chỉ tiêu 2024 là 1.380). Trường đào tạo hàng đầu cho các tỉnh dân tộc thiểu số vùng cao.
Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (Y Dược ĐHQGHN). Thành lập ngày 20 tháng 5 năm 2010 với tư cách Khoa Y Dược của ĐHQGHN; nâng cấp thành trường đại học ngày 27 tháng 10 năm 2020; Khoa Răng-Hàm-Mặt được lập ngày 23 tháng 12 năm 2022; Khoa Y khoa được lập ngày 20 tháng 11 năm 2023. Chỉ tiêu 2024 là 647. Thành viên của ĐHQGHN (do đó dưới Bộ GD&ĐT, không phải Bộ Y tế) — trẻ nhất trong nhóm trường y "đại học quốc gia" tinh hoa và là thí nghiệm khung tự chủ.
Trường Đại học Khoa học Sức khỏe — ĐHQG-HCM. Cơ sở Linh Trung, Dĩ An (nay thuộc Bình Dương). Khoa Y thành lập ngày 23 tháng 6 năm 2009 dưới quyền Trưởng khoa đầu tiên GS Đặng Văn Phước; nâng cấp thành trường đại học độc lập ngày 3 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định 472/QĐ-TTg. Các ngành: Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Dược, Y học cổ truyền, Điều dưỡng, Y học dự phòng. Chương trình song ngữ / đổi mới, đầu vào chất lượng cao qua Kỳ thi Đánh giá Năng lực của ĐHQG-HCM.
Các trường công lập khác
Khoa Y Dược, Trường Đại học Tây Nguyên (TTN). Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Khoa thành lập ngày 11 tháng 11 năm 1977 cùng trường mẹ; Y khoa, Điều dưỡng, Kỹ thuật xét nghiệm Y học, kèm CK1 nội khoa và Thạc sĩ Ký sinh trùng-Côn trùng. Liên kết với BV Đa khoa Đắk Lắk và BV ĐH Tây Nguyên. Trường đa ngành duy nhất phục vụ Tây Nguyên.
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (PNTU). 86/2 Thành Thái, Quận 10, TP.HCM. Khởi đầu là trung tâm đào tạo thành phố năm 1989; nâng cấp thành trường đại học ngày 1 tháng 7 năm 2008. Công lập nhưng thuộc Ủy ban Nhân dân TP.HCM. Các khoa: Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Điều dưỡng, Kỹ thuật Y học, Y tế công cộng. Sứ mệnh rõ ràng là cung cấp bác sĩ cho mạng lưới y tế phường-xã của thành phố.
Trường Đại học Y khoa Vinh (VMU). Vinh, Nghệ An. Thành lập ngày 13 tháng 7 năm 2010 (Quyết định 1077/QĐ-TTg) từ Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An năm 2003, vốn từ Trường Y sĩ Nghệ An năm 1960. Chỉ tiêu 2025 là 1.010. Cũng đào tạo cán bộ y tế Lào. Phục vụ Bắc Trung Bộ.
Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương (HMTU). Hải Dương. Khởi đầu là Trường Y sĩ Hải Dương ngày 5 tháng 9 năm 1960; trường đại học từ ngày 12 tháng 7 năm 2007. Y đa khoa cùng kỹ thuật viên hình ảnh, xét nghiệm và phục hồi chức năng; khoảng 13.000 cựu sinh viên trong mười năm đầu. Trường kỹ thuật y học chuyên biệt hàng đầu cả nước.
Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng (DUMTP). Đà Nẵng. Gốc Trường Cán bộ Quân-Dân y Trung Trung Bộ (26 tháng 3 năm 1963) ở Quảng Ngãi thời kháng chiến; trường đại học ngày 15 tháng 4 năm 2013 (Quyết định 595/QĐ-TTg). Chỉ tiêu 2025 là 1.224. Trường đại học kỹ thuật y-dược trực thuộc Bộ Y tế duy nhất ở miền Trung — khác với SMP-UDN dưới đây.
Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng (SMP-UDN). Đà Nẵng. Khoa Y Dược lập trong Đại học Đà Nẵng năm 2007; nâng cấp thành trường thành viên độc lập ngày 6 tháng 6 năm 2024. Sau mười bảy năm đã đào tạo mười bốn khóa — bốn bác sĩ đa khoa, bảy điều dưỡng, một răng-hàm-mặt, hai dược. Chỉ tiêu 2024 là 300. Bộ GD&ĐT (thành viên Đại học Đà Nẵng).
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định (NDUN). Nam Định. Tiền thân là Trường Y sĩ Nam Định năm 1960; sáp nhập vào TBUMP năm 1988, tách năm 1991, nâng cấp thành trường đại học điều dưỡng chuyên biệt đầu tiên của Việt Nam ngày 26 tháng 2 năm 2004 (Quyết định 24/2004/QĐ-TTg). Trường điều dưỡng chuyên biệt duy nhất và trường đào tạo giảng viên điều dưỡng cho cả nước.
Trường Y Dược, Đại học Trà Vinh (TVU SMP). Trà Vinh. Khoa Y Dược lập tại TVU; nâng cấp thành trường thành viên năm 2024 — trường thành viên thứ tư của TVU. Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Dược, Y học dự phòng, Điều dưỡng, Y tế công cộng; liên kết với bệnh viện trường. Sứ mệnh phục vụ chăm sóc sức khỏe đồng bào Khmer.
Học viện quân y và chuyên ngành
Học viện Quân y (Vietnam Military Medical University, VMMU). 160 Phùng Hưng, Phúc La, Hà Đông, Hà Nội. Thành lập năm 1949 với tên Trường Quân y; đổi tên qua Trường Sĩ quan Quân y (1957–62), Viện Quân y (1962–66), Trường Đại học Quân y (1966–81), được nâng cấp thành học viện năm 1981; mở chương trình bác sĩ đa khoa dân sự từ năm 1982. Công lập, quân sự, thuộc Bộ Quốc phòng. Hai bệnh viện thực hành chính: BV Quân y 103 và BV Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác, cùng Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội. Hơn 25.000 bác sĩ và dược sĩ cùng hơn 90.000 sĩ quan y tế đã được đào tạo. Cũng tuyển dân sự qua chỉ tiêu riêng với nghĩa vụ quân sự. Sản lượng nghiên cứu y học sau đại học cao nhất Việt Nam.
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam (VUTM). 2 Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội. Gốc: Trường Bồi dưỡng Cán bộ Y học cổ truyền Trung ương (1957) → Trường Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh (1969) → học viện ngày 2 tháng 2 năm 2005. Bác sĩ Y học cổ truyền (sáu năm), Dược sĩ YHCT, CK1, CK2, Thạc sĩ và Tiến sĩ. Khoảng 600 cán bộ giảng dạy, trong đó có mười một giáo sư và phó giáo sư cùng hai mươi sáu CKII. Hợp tác quốc tế với Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Ukraina và Cộng hòa Séc. Trường đào tạo BS YHCT lớn nhất cả nước, với cơ sở chị em là Khoa Y học Cổ truyền UMP-HCMC cho miền Nam.
Các trường tư thục
VinUniversity — College of Health Sciences. Vinhomes Ocean Park, Gia Lâm, Hà Nội. Khai trương tháng 10 năm 2020 do Tập đoàn Vingroup; chương trình Y khoa (sáu năm, tiếng Anh), Cử nhân Điều dưỡng và nội trú sau đại học về Nội khoa, Ngoại khoa, Nhi khoa. Tư thục phi lợi nhuận. Đối tác chiến lược Penn Medicine và Weill Cornell. Chương trình nội trú được ACGME-International công nhận — một trong hai trường ở Đông Nam Á đạt chứng nhận này. Trưởng khoa GS Maurizio Trevisan.
Trường Đại học Phenikaa — Khoa Y, Khoa Dược. Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội. Thành lập ngày 10 tháng 10 năm 2007 với tên Đại học Thành Tây; được Tập đoàn Phenikaa mua lại và đổi tên trong giai đoạn 2017–2018. Cụm khoa học sức khỏe đến năm 2021 bao gồm Y khoa, Dược, Điều dưỡng và Kỹ thuật Y sinh; đến năm 2026 mở rộng thành mười chương trình đại học sức khỏe, kể cả Răng-Hàm-Mặt, Y học cổ truyền, Hộ sinh, Quản lý bệnh viện, Phục hồi chức năng và Kỹ thuật xét nghiệm / hình ảnh. Tiên phong mô hình mentoring 1:1.
Trường Đại học Y khoa Tokyo Việt Nam (THUV). Ecopark, Hưng Yên. Thành lập ngày 22 tháng 7 năm 2016; đầu tư 100% Nhật Bản bởi Waseda Health Sciences Education Corporation. Năm chương trình Cử nhân — Điều dưỡng, Vật lý trị liệu, Kỹ thuật hình thể giả-chỉnh hình, Kỹ thuật Xét nghiệm, Kỹ thuật Hình ảnh — không có Y khoa hay Dược. Chỉ tiêu 2025 là 266. Có hướng tiếng Nhật và giảng viên Nhật; đường ống đưa điều dưỡng đi làm ở Nhật.
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (HIU). Bình Thạnh, TP.HCM. Thành lập năm 1997; mở rộng mảng sức khỏe bền vững từ thập niên 2010. Khoa Dược là mũi chiến lược — đến năm 2025 đã có mười sáu năm truyền thống, mười bốn phòng thí nghiệm, hơn 4.000 sinh viên, 40+ giảng viên, tám chương trình dược sau đại học. Cũng có Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Điều dưỡng và Kỹ thuật Y học.
Trường Đại học Duy Tân (DTU). Đà Nẵng. Thành lập năm 1994; chương trình bác sĩ đa khoa tư thục đầu tiên ở miền Trung và trường tư thục đầu tiên cả nước đào tạo Bác sĩ Răng-Hàm-Mặt ngoài TP.HCM — khóa nha khoa đầu tiên (sáu mươi sinh viên) tốt nghiệp tháng 10 năm 2024. Một bài VnExpress năm 2025 nêu việc thu hồi một số văn bằng nha khoa sau rà soát của Bộ GD&ĐT; phạm vi vẫn đang được làm rõ.
Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (NTTU). Quận 4, TP.HCM. Khoa Dược lập năm 2008 (Quyết định 232/2008/QĐ-PHC), nâng lên Dược sĩ đại học năm 2013; trường tư thục đầu tiên tại TP.HCM được phép đào tạo Y khoa, theo Quyết định 5839/QĐ-BGDĐT năm 2018. Y khoa, Răng-Hàm-Mặt, Dược, Y học cổ truyền, Điều dưỡng.
Trường Đại học Văn Lang (VLU). Bình Thạnh, TP.HCM. Thành lập năm 1995; mở Răng-Hàm-Mặt năm 2020 — trường nha khoa tư thục đầu tiên ở TP.HCM — và sau đó thêm Y khoa, Dược, Điều dưỡng và Y học cổ truyền với đầu tư khoảng 40 tỷ đồng cho trung tâm thực hành nha khoa mới.
Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH). TP.HCM. Thành lập năm 1995. Khoa Dược đang hoạt động; tuyển sinh năm 2026 bổ sung Y khoa và Y học cổ truyền làm ngành sức khỏe mới.
Trường Đại học Tân Tạo (TTU). Tây Ninh. Thành lập ngày 25 tháng 11 năm 2010 do bà Đặng Thị Hoàng Yến; chương trình Y khoa kiểu Mỹ, được ECFMG niêm yết, chuẩn bị cho USMLE Step 1 và 2.
Trường Đại học Võ Trường Toản (VTTU). Châu Thành, Hậu Giang. Thành lập ngày 18 tháng 2 năm 2008. Bảy khoa bao gồm Y khoa, Răng-Hàm-Mặt và Dược; bệnh viện trường VTTU. Tuổi Trẻ tháng 5 năm 2025 đưa tin Thanh tra Bộ GD&ĐT nêu sai phạm tại hai trường tư thục đào tạo y - dược — VTTU là một trong hai trường được nêu tên.
Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BMU). Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Thành lập ngày 19 tháng 8 năm 2014 (Quyết định 1450/QĐ-TTg); ban đầu là Y khoa và Dược, mở rộng năm 2020 thêm Điều dưỡng và Y tế công cộng; đổi tên Y Dược năm 2022. Tư thục phi lợi nhuận. Xây dựng theo mô hình Viện-Trường với BV ĐH Y Dược BMT.
Trường Đại học Đại Nam (DNU). Hà Nội. Thành lập năm 2007. Khoa Y, Khoa Dược, Khoa Điều dưỡng — Y đa khoa, Dược, Răng-Hàm-Mặt và Điều dưỡng. Tư thục, dân sự.
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT). Vĩnh Tuy, Hà Nội. Thành lập tháng 6 năm 1996 do GS Trần Phương; Khoa Y và Khoa Dược được phê duyệt ngày 19 tháng 11 năm 2015 (Quyết định 5738/QĐ-BGDĐT). Đáng chú ý là một trường đại học kinh doanh chuyển hướng vào Y khoa và Dược.
Trường Đại học Nam Cần Thơ (NCTU). Cần Thơ. Thành lập năm 2013. Bảy khoa bao gồm Y khoa, Dược, Răng-Hàm-Mặt, Điều dưỡng, y học cộng đồng, kỹ thuật y sinh; Dược năm năm và Y khoa sáu năm.
Trường Đại học Quốc tế Miền Đông (EIU). Thủ Dầu Một, Bình Dương. Thành lập ngày 27 tháng 9 năm 2010 do Becamex (Quyết định 1789/QĐ-TTg); đang vận hành Trường Điều dưỡng nhưng chưa có Dược sĩ đại học hoặc Y khoa đầy đủ tính đến năm 2026. Tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy.
Trường Đại học Lạc Hồng (LHU). Biên Hòa, Đồng Nai. Thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1997 (Quyết định 790/TTg) — trường tư thục đầu tiên của Đồng Nai. Chương trình Dược được phê duyệt ngày 28 tháng 12 năm 2012 (Quyết định 5845/QĐ-BGDĐT); khóa Dược sĩ đại học đầu tiên năm 2012; chương trình dược thứ hai ở Việt Nam đạt kiểm định AUN-QA.
Trường Đại học Yersin Đà Lạt. 27 Tôn Thất Tùng, Đà Lạt, Lâm Đồng. Thành lập năm 1997. Dược học (mã 7720201), Điều dưỡng (7720301); đường ống đưa điều dưỡng đi làm ở Nhật. Liên hệ ngữ nghĩa với Alexandre Yersin — không có quan hệ tổ chức.
Trường Đại học Thành Đô (TDU). Hoài Đức, Hà Nội. Thành lập năm 2009. Viện Y Dược thành lập ngày 1 tháng 3 năm 2013 (Quyết định 18/QĐ-ĐHTĐ); hiện đào tạo Dược, Điều dưỡng và Thạc sĩ Dược lâm sàng.
Trường Đại học Đông Á (EAUT). Đà Nẵng. Thành lập năm 2002. Khoa Điều dưỡng-Hộ Sinh có từ lâu; năm 2024 chính thức tuyển khóa Y khoa đầu tiên. Cũng đào tạo Dược, dinh dưỡng và kỹ thuật phục hồi chức năng.
Theo dõi trong giai đoạn 2026–27
Có ba điểm đáng theo dõi. Thứ nhất, đợt thi đầu tiên của Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quốc gia vào tháng 12 năm 2027 — khung nội dung và tiêu chí đỗ vẫn đang được Hội đồng Y khoa Quốc gia hoàn thiện, và sẽ định hình lại chương trình năm cuối tại mọi trường nêu trên. Thứ hai, hoạt động thanh tra của Bộ GD&ĐT tại các trường tư thục đào tạo y - dược: các xử lý năm 2025 tại Duy Tân (thu hồi văn bằng nha khoa) và phát hiện tại trường-thứ-hai-không-nêu-tên trong vụ VTTU cho thấy chỉ tiêu tuyển sinh và sắp xếp lâm sàng đang chịu giám sát sắc bén hơn. Thứ ba, năng lực hệ thống. Mật độ 14 bác sĩ trên 10.000 dân của Việt Nam thấp hơn mục tiêu 15/10.000 năm 2025 và còn cách xa các nước thu nhập trung bình cao đồng cấp; với chế độ chứng chỉ hành nghề đã được chuẩn hóa toàn quốc, câu hỏi là hệ thống sẽ mở rộng (thêm trường tư thục, thêm phân hiệu công lập như HMU Thanh Hóa) hay đào sâu (nội trú dài hơn, kỳ thi cấp phép khó hơn) để thu hẹp khoảng cách.
Nguồn
- Trang chủ Trường Đại học Y Hà Nội (hmu.edu.vn); mục Wikipedia tiếng Anh về HMU và École de Médecine de l'Indochine.
- Trường Đại học Dược Hà Nội — trang lịch sử chính thức (hup.edu.vn).
- Trường Đại học Y Dược TP.HCM (ump.edu.vn); mục Wikipedia về UMP HCMC.
- Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế (huemed-univ.edu.vn); tin Đại học Huế nhân kỷ niệm 65 năm.
- Trường Đại học Y Dược Cần Thơ — trang lịch sử tiếng Anh (engtdhydct.ctump.edu.vn).
- Trường Đại học Y Dược Hải Phòng — bài 40 năm thành lập (hpmu.edu.vn).
- Trường Đại học Y Dược Thái Bình (old.tbump.edu.vn); Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên (tump.edu.vn).
- Trường Đại học Y Dược, ĐHQGHN — mục Wikipedia.
- Trường Đại học Khoa học Sức khỏe — ĐHQG-HCM — trang lịch sử (en.uhsvnu.edu.vn).
- Học viện Quân y — tổng hợp qua Wikipedia và Educatly.
- Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam (vutm.edu.vn); Khoa Y học Cổ truyền UMP-HCMC (tradmed.ump.edu.vn).
- Trường Đại học Tây Nguyên (ttn.edu.vn); Phạm Ngọc Thạch UMC (pnt.edu.vn); Trường Đại học Y khoa Vinh.
- Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương (hmtu.edu.vn); Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng (dhktyduocdn.edu.vn); Trường Y Dược — Đại học Đà Nẵng (Báo Chính phủ 6 tháng 6 năm 2024).
- Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định (20nam.ndun.edu.vn); Trường Y Dược — Đại học Trà Vinh (tvu.edu.vn).
- VinUniversity College of Health Sciences (chs.vinuni.edu.vn); Trường Đại học Phenikaa Khoa Y (md.phenikaa-uni.edu.vn).
- Trường Đại học Y khoa Tokyo Việt Nam (tokyo-human.edu.vn); HIU Khoa Dược (hiu.vn).
- Trường Đại học Duy Tân — Tuổi Trẻ 11 tháng 10 năm 2024 (tốt nghiệp nha khoa) và VnExpress 2025 (báo cáo thu hồi văn bằng).
- Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (tuyensinh.ntt.edu.vn); Khoa Răng-Hàm-Mặt Văn Lang (vlu.edu.vn).
- HUTECH — Tuổi Trẻ 28 tháng 12 năm 2025 về việc mở ngành Y khoa và Y học cổ truyền mới.
- Trường Đại học Tân Tạo (ttu.edu.vn); Trường Đại học Võ Trường Toản (vttu.edu.vn); Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (bmu.edu.vn).
- Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (hubt.edu.vn); Trường Đại học Nam Cần Thơ (nctu.edu.vn); Trường Đại học Quốc tế Miền Đông (eiu.edu.vn); Trường Đại học Lạc Hồng Khoa Dược (lhu.edu.vn); Trường Đại học Yersin Đà Lạt (yersin.edu.vn); Trường Đại học Thành Đô (thanhdo.edu.vn); Trường Đại học Đông Á — Tạp chí Công Thương về khóa Y khoa đầu tiên.
- Bộ Y tế / Bộ Giáo dục và Đào tạo — Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 (Luật 15/2023/QH15) và Nghị định 96/2023/NĐ-CP (Thư Viện Pháp Luật).
- Hội đồng Y khoa Quốc gia — VietnamNet và Vietnam News năm 2026 về lộ trình Kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quốc gia (2027 / 2028 / 2029).
- Báo Người Lao Động (24 tháng 12 năm 2024) và Mekong ASEAN — mật độ 14 bác sĩ trên 10.000 dân năm 2024 của Việt Nam và mục tiêu năm 2025.